Social Media Marketing trong Nền Công Nghiệp Giải Trí [4 Case Studies Tuyệt Vời]

tuyển dụng marketing
0

Social Media và Nền Công Nghiệp Giải Trí có một mối quan hệ Ghét-Yêu cực kỳ chặt chẽ. Ở một khía cạnh khác, social media đã lấy đi rất nhiều khán giả đã từng một thời say đắm bên màn ảnh nhỏ hoặc bên màn ảnh rộng. Social media ngày nay hầu như lấy đi của chúng ta rất nhiều thời gian quý báu với sự ra đời của Youtube. Số lượng view video trên Youtube ngày nay cao hơn rất nhiều so với lượng view trên TV. Một khía cạnh khác, social media lại là một trợ thủ đắc lực cho nền công nghệ giải trí khổng lồ. Trước khi có social media, hầu như tất cả các hoạt động Marketing là word-of-mouth (truyền miệng). Bây giờ với sự hỗ trợ của social media, các hoạt động marketing đã phat triển hơn rất rất nhiều. Trong bài viết này, hãy cùng điểm lại những sự thay đổi của Marketing trong nền công nghiệp giải trí này sau khi có sự tham gia của social media nhé.

Đầu tiên, có thể nói rằng chưa từng có một nền công nghiệp nào lại có sự hoạt động mạnh mẽ trên social media như nền công nghiệp giải trí hiện nay. Theo một nghiên cứu năm 2015 của Facebook, nền công nghiệp giải trí chiếm đến 63.2% tổng số lượng bài viết, nhiều hơn sáu ngành công nghiệp khác gộp lại (bán lẻ, tự động hóa, telecom, dịch vụ tài chính, F&B).

Các nghệ sĩ làm gì với social media? Họ xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với người hâm mộ của họ bằng cách tạo ra một cộng đồng nhỏ hay còn được gọi là Fan Club. Tất cả những thông tin đến từ các Fan Club này được lan truyền mạnh mẽ mà không ai có thể ngờ tới. Chỉ đơn giản là một đoạn trailer ngắn của bộ phim mới mà thần tượng của họ đang tham gia vào cũng được chia sẻ đến chóng mặt trên mạng xã hội. Ngày này, chiến dịch word-of-mouth với sự giúp sức của social media được ví như là “hổ mọc thêm cánh”.

1. Paranormal Activity

Một trong những bộ phim kinh dị hay nhất mọi thời đại, được ra đời bởi Oren Pile, một videogame designer với kiến thức phim ảnh bằng không, chính là Paranormal Activity. Bộ phim được quay trong một tuần vào năm 2006 chỉ với duy nhất $11,000. Điều gì đã làm nên sự thành công của bộ phim? Câu trả lời chính là sự lan truyền mạnh mẽ của các chiến dịch social media. Đây được coi là lần đầu tiên chiến dịch viral marketing được thực hiện trong nền công nghiệp giải trí, và kết quả là bộ phim thu hồi được hơn 100 triệu đô Mỹ. Không tệ một tí nào phải không? Vậy làm thế nào mà Paranormal Activity được lan truyền toàn cầu chỉ trong chưa tới một tháng?

Ngắn gọn, Paramount thông báo trên mạng xã hội rằng nếu bộ phim đạt được hơn 1 triệu lượt theo dõi trên mạng Internet, nhà sản xuất sẵn sàng công chiếu miễn phí cho những nơi nào có nhu cầu xem phim. Dĩ nhiên sau đó bộ phim được lan truyền vô cùng mạnh mẽ rồi. Miến phí mà, ai mà chẳng ham. Bộ phim thì được PR mà không phải tốn bất kì chi phí Marketing nào cả.

Thời điểm đó, Paramount đã sử dụng các trang như StumbleUpon, Facebook và Twitter để chia sẻ thông tin đến công chúng. Các khán giả có thể “tweet nỗi sợ hãi” trực tiếp từ website của Paranormal Activity. Kết quả là ai cũng rất hào hứng chờ đến ngày bộ phim được công chiếu miễn phí tại quê nhà của họ. Họ cũng cảm thấy rằng họ có một sức mạnh về việc quyết định sự ra mắt của bộ phim. Họ được quyền điều khiển những gì mà Paramount làm! Có ai đã làm được như vậy trong lịch sử điện ảnh chưa nhỉ?

2. Despicable Me 2 – Kẻ Trộm Mặt Trăng 2

Di chuyển tới thời điểm năm 2013, Despicable Me 2 là một ví dụ điển hình. Đây là một trong 4 bộ phim hoạt hình có doanh thu cao nhất mọi thời đại. Chắc chắn rồi, bộ phim phải nói là rất tuyệt vời. Despicable Me 2 đã chậm rãi xây dựng sự hào hứng của khán giả trên các mạng xã hội trước ngày công chiếu đến một năm.

Đầu tiên, họ tung ra một đoạn trailer ngắn với hình ảnh các chú Minion đang hát một bài hát vô cùng vui nhộn. Điều duy nhất được gợi ý là trailer số 2 của bộ phim ở đoạn cuối của video. Sau đó, một nửa trẻ em của toàn nước Mỹ đã thuộc làu và hát đi hát lại bài hát đó ngay trước khi bộ phim được công chiếu. Bạn muốn nghe thử không?

Đoạn teaser số 2 được công bố 8 tháng sau đó. Người dùng cũng được điều hướng từ Youtube về Facebook để có thể cập nhật những thông tin về bộ phim dễ dàng hơn. Các bài post trên Facebook luôn sử dụng hình ảnh Minion để khán giả không bao giờ quên được hình ảnh Minion. Những bài post thì được cập nhật liên tục và thậm chí Social Media Managers của bộ phim cũng để luận bình luận để hỏi khán giả về cảm nhận của họ. Các bài post được thay đổi nội dung liên tục tùy theo những ngày lễ của đất nước. Do đó bọn trẻ nước Mỹ lại có video xem liên tục và dĩ nhiên là chúng cũng sẽ chia sẻ với bạn bè để coi rồi. Tổng cộng: 57 video ngắn đã được tung ra trước ngày bộ phim được công chiếu.

Despicable Me 2 cũng kết hợp giữa Online và Offline Marketing bằng việc “chơi hơi lớn”: họ tạo ra một chiếc khinh khí cầu hình Minion khổng lồ bay lượn giữa đường phố để khuyến khích mọi người chụp ảnh đăng lên mạng xã hội. Khỏi phải nói rồi, hàng trăm nghìn bức ảnh đã được cập nhật lên mạng xã hội sau đó.

Sau khi bộ phim công chiếu thì các chiến dịch Marketing cũng không kết thúc. Kết quả là: hình ảnh các chú Minions xuất hiện ở khắp mọi nơi từ hình ảnh, phim ảnh, video games, ứng dụng và cả đồ chơi.

3. Deadpool (1,2)

Deadpool được công chiếu ngay đúng vào ngày lễ Valentine’s Day. Ngày lễ là một món quà dành cho mọi marketer, chắc chắn là như vậy. Deadpool được ra mắt trên Youtube với lời nhắn nhủ đây là bộ phim tuyệt vời cho ngày hẹn hò Valentine’s Day. Ngoài việc tung ra các clip quảng cáo, Deadpool cũng tung ra một số đoạn clip hướng dẫn cách “cua gái”. Tuyệt vời phải không?

Trong khi Youtube là mạng xã hội tuyệt vời cho việc quảng bá phim ảnh (bắt đầu từ năm 2016), Twitter vẫn đang giữ vai trò tuyệt vời hơn. Các diễn viên chính của Deadpool thì liên tục cập nhật các tweet hài hước và tất nhiên là số lượng fan theo dõi cũng tăng lên rất rất nhiều. Ai mà chẳng thích được tương tác với thần tượng của mình chứ.

Bạn thấy đó, bộ phim không có quảng cáo theo cách mà mọi người thường làm. Deadpool, có thể nói, quảng cáo theo cách rất lạ, có phần hơi thô lỗ nữa. Vì lẽ đó, Deadpool đã là bộ phim có doanh thu cao hơn cả X-Men, trở thành bộ phim bị R-rated có doanh thu cao nhất mọi thời đại (cao hơn cả Ma Trận).

4. Amanda Palmer

Một lần nữa, hãy quay ngược lại thời điểm năm 2009, khi mạng xã mội mới chỉ nhen nhóm vào thế giới marketing. Amanda Palmer, một ca sĩ đến từ The Dresden Dolls, đã trở thành người đầu tiên sử dụng mạng Internet để nổi tiếng. Website chính thức của cô có tên là: Amanda Palmer: The official website of Amanda Fucking Palmer. Ngày nay, cô ấy có hơn 1.15 triệu lượt follow trên Twitter.

Nếu bạn chưa biết, The Dresden Dolls chơi thể loại nhạc Punk Cabaret – một thể loại nhạc không thể cạnh tranh được với thể loại nhạc Pop. Nếu bạn search tên cô ấy trên mạng xã hội, sẽ chẳng ngạc nhiên khi bạn thấy sự tương tác của cô ấy với các fan hâm mộ.

Như tất cả mọi người trong danh sách này, Amanda không ngừng liên tục cập nhật các trạng thái mới và tương tác với khách hàng. Vào năm 2009, cô ấy đã kiếm được hơn $11,000 chỉ trong 2 giờ trên Twitter. Vào một đêm thứ 6, cô ấy đăng một dòng trạng thái lên Twitter rằng cô ấy đang cô đơn. Ngay lập tức, người theo dõi lập tức bình luận bên dưới để chia sẻ với cô ấy. Ngay lập tức, cô ấy giới thiệu hashtag #LOFNOTC (The losers of Friday Night on their Computers). Hàng ngàn người đã tham gia vào cuộc hội thoại ngay sau đó. Cô ấy còn tiến xa hơn bằng cách thành lập một tổ chức “Losers of Friday Night on their Computers”. Và hội viên cũng điều xuất thiết kế áo thun của tổ chức để quảng bá. Tất nhiên rồi, Amanda ngây lập tức thiết kế và bán áo thun của tổ chức với giá $25/cái. 2 tiếng sau bán được hơn $11,000.

Kết luận

Chúng ta có thể học được gì từ những ví dụ trên?

  1. Tương tác với khán giả.
  2. Hãy là chính bạn.
  3. Hành động nhanh chóng. Hãy chuẩn bị một lượng ngân sách nhất định cho các hoạt động marketing trên mạng xã hội.
  4. Hãy nghĩ đến nhưng cách sáng tạo để tương tác với khán giả – hãy khác biệt so với những người còn lại.

Related Blogs

Leave us a comment